Di Linh – Gia Bắc – Kê Gà

http://www.simonhoadalat.com/diaphan/truyengiao/lacquanmienthuong/Phan2Chuong1.htm

Thiết lộ Saigon – Nha Trang khởi công từ 1901 mãi tới 1913 mới hoàn thành.

Cũng trong lúc đó nhiều phái đoàn nghiên cứu để thảo dự án làm các con đường giao thông trên Cao nguyên Lâm Viên vẫn chậm rãi làm việc. Phái đoàn Garnier và Cunhac (1906-1907) cũng tiếp tục thám sát để đặt kế hoạch mở trục lộ Saigon-Đalat qua Di Linh.

Khi trực tiếp điều khiển guồng máy hành chánh (1901), Cunhac đã xúc tiến mạnh việc thành lập các trục lộ chính từ vùng ven bể đi lên Trung tâm dưỡng sức Đalat.

Từ 1907, ông đã có công rất lớn trong việc khai thông trục Đalat – Di Linh – Ma Lâm đúng theo đồ án hồi 1901 do Ernest Outrey cựu công sứ Đồng Nai Thượng đề xướng.

Malâm tiếng Chăm có nghĩa là “đêm” là một làng nằm cách Phan Thiết 16 cây số rưỡi. Công việc khai thông trục lộ dài 54 cây số rưỡi đường đèo này thật là hết sức vất vã. Nhiều dân phu và chuyên viên công chánh đã ngã gục trên đường Malâm-Di Linh (thường gọi là Gia Bắc) vì cảm thương hàn và nhất là sốt rét rừng. Có hai chuyên viên công chánh người Pháp đã bỏ mình trong công tác này vì bệnh sốt thương hàn ; xác họ được chôn tại nghĩa trang dành cho người Âu Châu trên ngọn đồi đầu lối đi vào làng phong Di Linh.

Con đường Di Linh đến đèo Prenn để lên Dalat cũng được thúc đẩy mạnh mẽ trong giai đoạn này. Ra khỏi Di Linh 32 cây số đến Lang Hanh, con đường bị sông Đa Nhim chắn ngang. Trước kia để qua sông này thì phải đi phà nổi ghép bằng nhiều thuyền độc mộc của người Thượng; thuyền làm bằng thân cây sao to khoét rỗng mỗi chiếc rộng độï nửa thước. Đến 1913, trưởng đồn Di Linh đã dùng nhân công Thượng làm nên một cầu gỗ khá bảo đảm để xe hơi qua lại được dễ dàng.

Giai đoạn khuyếch trương và tu bổ trục lộ Đalat – Dilinh – Malâm kết thúc vào 1910 thì đến năm 1913 được cho tu bổ thêm ra nữa ; chi phí do tổng ngân sách đài thọ, cho nên công việc được xúc tiến mạnh. Đến tháng 10 năm 1914 thì hoàn thành, nhưng cũng phải mất bốn năm trời và chi phí những 700.000 phật lăng Pháp xưa tức là 262.500 đồng bạc Việt Nam thời ấy. Vì thế kể từ cuối năm 1914 sự giao thông giữa Saigon – Đalat qua ngã Malâm – Di Linh chỉ mất không đầy một ngày rưỡi đường (trái lại nếu đi ngả Phan Rang lên Krong Pha, phải mất hai ngày đàng và phải vượt qua nhiều chặng khó khăn hiễm trở). Ngày đầu khách sẽ đi xe lửa khởi hành từ ga Saigon lúc 6 giờ 50 sáng, đến 13 giờ thì đến ga Malâm. Tại đây khách sẽ sang qua xe hơi với giá vé là 5 đồng để đi lên Dilinh. Xe hơi đỗ lại Dilinh lúc 17 giờ, hành khách lo thuê chỗ ngủ qua đêm tại một nhà quán trọ (đã có từ 1914). Hôm sau xe hơi Dilinh – Đalat khởi hành từ 7 giờ sáng, giá vé cũng 5 đồng và đến 10 giờ thì tới Đalat.

Thời ấy trục lộ “Malâm – Dilinh – Đalat” đã trở nên quan trọng, nhờ nó Saigon – Đalat chỉ còn cách nhau 350 cây số và chỉ mất 200 cây số đi xe lửa, với 150 cây số dùng xe hơi từ ga Malâm lên Đalat .

Bởi đó trục lộ huyết mạch này được tu bổ thường xuyên. Đường Gialâm – Dilinh (quen gọi là đường Gia Bắc) được đặt cho cái tên là đường liên tỉnh số 8, dài những 54 cây số rưỡi (từ cây số 43 đến cây số 97,500). Tuy sự di chuyển bằng xe hơi trên đoạn đường Gia Bắc tương đối dễ trong mùa khô, thì trong mùa mưa dầm cũng còn lắm khó khăn. Đến cuối năm 1915, tình trạng xe kẹt lầy trên đường Gia Bắc vẫn còn rất nhiều và rất thường, nhưng cho những du khách trẻ ham thích xông pha, việc xe bị mắc mưa, sa lầy hay bị kẹt đường là những mạo hiểm nho nhỏ để thêm vào cái vui đặc biệt cho cuộc du ngoạn lên cao nguyên vậy.

Con đường Malâm – Dilinh về sau còn được nối dài lên đến Quảng Đức qua phà Kinh Đa (đường này cũng có tên là đường Kinh Đức) gọi là đường liên tỉnh số 8 kéo dài 39 cây số (từ cây số 108 đến cây số 147). Đoạn đường này quan trọng không những về mặt giao thông mà cả về mặt kinh tế và chiến lược nữa.